Chào mừng quý vị đến với website của Phạm Pa Ri
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nhạc cụ dân tộc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Minh Vân (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:48' 26-03-2010
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Minh Vân (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:48' 26-03-2010
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC QUẬN PHÚ NHUẬN.
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG NHẤT.
HÁT - NHẠC LỚP 5
Giáo viên: ĐÀO THỊ THƯƠNG HUYỀN
Năm học: 2009 - 2010.
KHỞI ĐỘNG
Luyện cao độ:
Luyện tiết tấu:
Tập đọc nhạc số 3:
Tôi hát Son La Son
VŨ THANH
Son son son. Tôi hát son la son. Bè trầm tôi
hát đồ rê mi đồ. Múa hát nào.
Luyện cao độ:
Luyện tiết tấu:
Tập đọc nhạc số 4:
Nhớ ơn Bác
PHAN HUỲNH ĐIỂU
A! Có Bác Hồ đời em được ấm no.
Chúng em múa ca càng nhớ công ơn Bác Hồ.
TRÒ CHƠI
Xem hình đoán chữ
a. Đàn bầu
b. Đàn nhị
c. Đàn tranh
c. Đàn tranh
a. Đàn tam
b. Đàn nguyệt
a. Đàn bầu
b. Đàn tứ
c. Đàn tỳ bà
Nhạc sĩ
Cao Văn Lầu
Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (còn gọi là Sáu Lầu), tên thật là Cao Văn Giỏi sinh ngày 22/12/1892, tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Ông đến Bạc Liêu năm lên 4 tuổi.
Cha mẹ Cao Văn Lầu gửi ông vào chùa Vĩnh Phước An . Hòa thượng Minh Bảo trụ trì chùa dạy cho chú bé Lầu , lúc đó mới 8 tuổi vừa học kinh kệ vừa chữ nho.
Năm 1903, nhờ cha đến xin, Cao Văn Lầu được phép trở về nhà để học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay, thì ông Lầu phải thôi học vì nhà gặp thêm cảnh khó khăn.
Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, tục gọi Hai Khị hay Nhạc Khị. Ông thầy này bị mù cả hai mắt thêm có tật ở chân, nhưng ngón đàn của ông thật điêu luyện.
Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để xin học đàn mỗi đêm. Nhờ yêu thích và siêng năng, ông mau chóng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.
Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh).
Thấy Sáu Lầu là một học trò giỏi lại ngoan ngoãn, ông thầy rất yêu quý và đã tận tình truyền dạy những hiểu biết của mình. Thầy trò Khạc Nhị và Cao Văn Lầu gắn bó suốt gần mười năm. Trong đám bạn bè cùng học, Cao Văn Lầu là người học giỏi nhất, nổi tiếng là người hát hay, đàn giỏi. Lớn lên, ông làm việc ở tòa sứ Bạc Liêu và vẫn thường xuyên tham gia các nhóm đàn ca tài tử ở đây. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Cao Văn Lầu là bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời khỏang năm 1919 – 1920. Theo lời nghệ sĩ Ba Du kể, vào khoảng thời gian này ở Huế có một đoàn nhạc gồm những nghệ nhân tên tuổi đi du lịch vào Nam Bộ. Sau khi tham quan, trao đổi nghệ thuật với các nhóm tài tử miền Đông và miền Trung nam Bộ, nhóm tài tử Huế có đến gặp nhóm tài tử Bạc Liêu.
Trong những buổi hòa nhạc thân ái, giọng ca tiếng đàn đã để lại cho nhóm tài tử Bạc Liêu những ấn tượng đẹp đẽ. Để ghi lại cuộc gặp gỡ đặc biệt đó,nhóm tài tử bạc Liêu phân công ông Sáu lầu sáng tác một bản nhạc trong thời gian ngắn để kịp tặng lại nhóm tài tử Huế và đồng thời cũng có ý đáp lại bản Hành Vân, một bản nhạc hay nhất của nhóm nhạc Huế. Sau khi được phân công làm việc đó, ông Sáu Lầu rất lo, suy nghĩ miên man mà chưa ra một nét nhạc nào.Một hôm như thường lệ, ông làm nhiệm vụ đứng gác bên cạnh Tòa sứ. Giữa lúc đêm khuya vắng vẻ, tĩnh mịch, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng trống điểm canh bên cạnh nhà tù, ông xúc động nhớ đến hình ảnh người thiếu phụ đêm khuya tựa gối trông chồng và ông bắt đầu nghĩ ra một bản nhạc lấy tên Dạ cổ hoài lang.
Dạ cổ Hoài Lang có một nhạc điệu buồn thương nhưng đầy nét chân thật, trong sáng, không sướt mướt ủ rũ bế tắc như một số bản nhạc khác sau này. Có người cho rằng, bài ca như tâm sự của những thiếu phụ có chồng đi lính cho Pháp trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tuy nhiên, bài ca vẫn chứa chan niềm hy vọng. Nỗi buồn đau riêng đã được nâng lên thành nỗi đau chung, do vậy bài Dạ cổ Hoài Lang đã đi vào lịch sử âm nhạc dân tộc, trở thành bài vọng cổ được yêu thích cho tới hôm nay và đồng bào Nam Bộ coi như một tài sản tinh thần vô giá.
Ông mất ngày 13/8/1976. Tên tuổi Cao Văn Lầu trong lịch sử ca nhạc cải lương được khẳng định và nhân dân còn ghi nhớ mãi. Hiện tại Bạc Liêu có một đường phố mang tên Cao Văn Lầu, có khu lưu niệm và giải thưởng cấp tỉnh mang tên ông.
Hãy kể tên những nhạc cụ em nhìn thấy trong đoạn phim vừa xem.
Đàn tranh, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn bầu.
Về nhà ôn lại bài T?p d?c nh?c
Chào tạm biệt và hẹn gặp lại.
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG NHẤT.
HÁT - NHẠC LỚP 5
Giáo viên: ĐÀO THỊ THƯƠNG HUYỀN
Năm học: 2009 - 2010.
KHỞI ĐỘNG
Luyện cao độ:
Luyện tiết tấu:
Tập đọc nhạc số 3:
Tôi hát Son La Son
VŨ THANH
Son son son. Tôi hát son la son. Bè trầm tôi
hát đồ rê mi đồ. Múa hát nào.
Luyện cao độ:
Luyện tiết tấu:
Tập đọc nhạc số 4:
Nhớ ơn Bác
PHAN HUỲNH ĐIỂU
A! Có Bác Hồ đời em được ấm no.
Chúng em múa ca càng nhớ công ơn Bác Hồ.
TRÒ CHƠI
Xem hình đoán chữ
a. Đàn bầu
b. Đàn nhị
c. Đàn tranh
c. Đàn tranh
a. Đàn tam
b. Đàn nguyệt
a. Đàn bầu
b. Đàn tứ
c. Đàn tỳ bà
Nhạc sĩ
Cao Văn Lầu
Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (còn gọi là Sáu Lầu), tên thật là Cao Văn Giỏi sinh ngày 22/12/1892, tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Ông đến Bạc Liêu năm lên 4 tuổi.
Cha mẹ Cao Văn Lầu gửi ông vào chùa Vĩnh Phước An . Hòa thượng Minh Bảo trụ trì chùa dạy cho chú bé Lầu , lúc đó mới 8 tuổi vừa học kinh kệ vừa chữ nho.
Năm 1903, nhờ cha đến xin, Cao Văn Lầu được phép trở về nhà để học chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay, thì ông Lầu phải thôi học vì nhà gặp thêm cảnh khó khăn.
Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí, tục gọi Hai Khị hay Nhạc Khị. Ông thầy này bị mù cả hai mắt thêm có tật ở chân, nhưng ngón đàn của ông thật điêu luyện.
Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để xin học đàn mỗi đêm. Nhờ yêu thích và siêng năng, ông mau chóng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.
Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh).
Thấy Sáu Lầu là một học trò giỏi lại ngoan ngoãn, ông thầy rất yêu quý và đã tận tình truyền dạy những hiểu biết của mình. Thầy trò Khạc Nhị và Cao Văn Lầu gắn bó suốt gần mười năm. Trong đám bạn bè cùng học, Cao Văn Lầu là người học giỏi nhất, nổi tiếng là người hát hay, đàn giỏi. Lớn lên, ông làm việc ở tòa sứ Bạc Liêu và vẫn thường xuyên tham gia các nhóm đàn ca tài tử ở đây. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Cao Văn Lầu là bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời khỏang năm 1919 – 1920. Theo lời nghệ sĩ Ba Du kể, vào khoảng thời gian này ở Huế có một đoàn nhạc gồm những nghệ nhân tên tuổi đi du lịch vào Nam Bộ. Sau khi tham quan, trao đổi nghệ thuật với các nhóm tài tử miền Đông và miền Trung nam Bộ, nhóm tài tử Huế có đến gặp nhóm tài tử Bạc Liêu.
Trong những buổi hòa nhạc thân ái, giọng ca tiếng đàn đã để lại cho nhóm tài tử Bạc Liêu những ấn tượng đẹp đẽ. Để ghi lại cuộc gặp gỡ đặc biệt đó,nhóm tài tử bạc Liêu phân công ông Sáu lầu sáng tác một bản nhạc trong thời gian ngắn để kịp tặng lại nhóm tài tử Huế và đồng thời cũng có ý đáp lại bản Hành Vân, một bản nhạc hay nhất của nhóm nhạc Huế. Sau khi được phân công làm việc đó, ông Sáu Lầu rất lo, suy nghĩ miên man mà chưa ra một nét nhạc nào.Một hôm như thường lệ, ông làm nhiệm vụ đứng gác bên cạnh Tòa sứ. Giữa lúc đêm khuya vắng vẻ, tĩnh mịch, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng trống điểm canh bên cạnh nhà tù, ông xúc động nhớ đến hình ảnh người thiếu phụ đêm khuya tựa gối trông chồng và ông bắt đầu nghĩ ra một bản nhạc lấy tên Dạ cổ hoài lang.
Dạ cổ Hoài Lang có một nhạc điệu buồn thương nhưng đầy nét chân thật, trong sáng, không sướt mướt ủ rũ bế tắc như một số bản nhạc khác sau này. Có người cho rằng, bài ca như tâm sự của những thiếu phụ có chồng đi lính cho Pháp trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tuy nhiên, bài ca vẫn chứa chan niềm hy vọng. Nỗi buồn đau riêng đã được nâng lên thành nỗi đau chung, do vậy bài Dạ cổ Hoài Lang đã đi vào lịch sử âm nhạc dân tộc, trở thành bài vọng cổ được yêu thích cho tới hôm nay và đồng bào Nam Bộ coi như một tài sản tinh thần vô giá.
Ông mất ngày 13/8/1976. Tên tuổi Cao Văn Lầu trong lịch sử ca nhạc cải lương được khẳng định và nhân dân còn ghi nhớ mãi. Hiện tại Bạc Liêu có một đường phố mang tên Cao Văn Lầu, có khu lưu niệm và giải thưởng cấp tỉnh mang tên ông.
Hãy kể tên những nhạc cụ em nhìn thấy trong đoạn phim vừa xem.
Đàn tranh, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn bầu.
Về nhà ôn lại bài T?p d?c nh?c
Chào tạm biệt và hẹn gặp lại.






Tặng bạn
Sang thăm thầy Pa Ri , chúc thầy sk , công tác tốt , gia đình hạnh phúc , đón giáng sinh nhiều niềm vui !!!
Cảm ơn Thầy Pa Ri đã ghé thăm trang của HN . Chúc thầy cùng người thân và gia đình đón giáng sinh an lành , hạnh phúc !!!
THÂN TẶNG QUÝ THÀY (CÔ)!